Home / Văn mẫu cấp 3 / Văn mẫu lớp 11 / Soạn văn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chương trình Ngữ văn 11
30 May, 2018

Soạn văn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chương trình Ngữ văn 11

Posted in : Văn mẫu lớp 11 on by : Phạm Ngọc

Trong bài học ngày hôm nay, Vanmauhay sẽ giới thiệu đến các bạn bài soạn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhằm cung cấp những kiến thức bổ ích, hỗ trợ trực tiếp cho quá trình học tập và tìm hiểu bài học

Câu 1. Nêu những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu. Anh (chị) cảm nhận sâu sắc điều gì qua cuộc đời nhà thơ?

Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), sinh ra trong một gia đình nhà nho tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1843 Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định, năm 1846 ông ra Huế học nhưng lúc sắp vào trường thì lại phải về chịu tang mẹ (1849), dọc đường đi ông bị đau mắt nặng tồi mù, sau đó Nguyễn Đình Chiểu về Gia Định mở lớp dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Năm 1859 Pháp đánh vào Gia Định, ông đứng vững trên chiến tuyến đầu của cuộc kháng chiến, tới khi Nam Kì mất, ông ở lại Bến Tre, dù cho thực dân Pháp có dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông kháng cự lại tất cả , giữ trọn lòng thủy chung son sắt với nước với dân.

Cuộc đời nhà thơ có những sự gian nan, trắc trở, chịu cảnh hiểm nghèo nhưng lại là một cuộc đời đáng để người đời noi gương và học hỏi. Cuộc đời ấy tràn đầy sự nghị lực và bao dung, là một người thầy giáo đáng kính, một người thầy thuốc y đức, tài năng, một nhà thơ xuất chúng, và đặc biệt là một người con yêu nước thủy chung son sắt.

Câu 2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

  • Dựa vào những đoạn trích đã học về Truyện Lục Vân Tiên (ở lớp 9 và lớp 11), hãy cho biết lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm nào.

Lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm với những người nông dân thật thà chân phác mà dân dã, chân chất tình cảm. Đạo đức nho giáo trong ông được nuôi dưỡng trong những cóm làng đầy ắp tình cảm của những người nông dân như thế.

  • Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tác động tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đối với cuộc chiến đấu chồng thực dân Pháp đương thời?

Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: đỉnh cao tư tưởng và tình cảm thời đại là lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác những tác phẩm đáp ứng xuất sắc yêu cầu của cuộc kháng chiến thời ấy. Thơ văn của ông ghi lại chân thực một thời đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân ta, đồng thời nhiệt liệt biểu dương những anh hùng nghĩa sĩ đã chiến đấu, hy sinh vì tổ quốc. Bên cạnh đó tố cáo tội ác giặc xâm lăng, sẵn sàng lên án những kẻ đầu hàng, ca ngợi những sĩ phu yêu nước

  • Theo anh (chị) sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm nào?

Sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, chân chất, bình dị đến tâm hồn nồng nhiệt, chất phác, cách cư xử khoáng đạt, hồn nhiên. Lối thơ thiên về kể trong các truyện của ông cũng mang màu sắc diễn xướng rất phổ biến trong văn học dân gian Nam Bộ.

Câu 3. Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận được điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giũa hai nhà thơ này? Hãy trình bày ý kiến của mình.

Hai tư tưởng của hai nhà thơ lớn là Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu có dự gần gũi và tương đồng, đó là những tư tưởng cao đẹp, lớn lao, hướng đến những giá trị của lòng yêu nước, cuộc sống người nông dân. Tư tưởng nhân đạo được đề cao trong các tác phẩm của hai nhà thơ, cả hai nhà thơ đều là những trí thức có nhân cách cao đẹp và mang lại những cống hiến lớn lao cho văn học nước nhà.

Luyện tập

Căn cứ vào những kiến thức đã học về Nguyễn Đình Chiểu và các tác phẩm của ông, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về nhận định của nhà thơ Xuân Diệu: “Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ là một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu”?

Nhận định của nhà thơ Xuân Diệu là một nhận định xác đáng về nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu, ông là một nhà thơ quan tâm sâu sắc tới đời sống hàng ngày của người dân lao động và có một sự gần gũi, kính trọng và đầy yêu mến với những đức tính thật thà, chất phác của người dân lao động.

Phần Hai: Tác phẩm

Hướng dẫn học bài

Câu 1. Đọc Tiểu dẫn, nắm những nét cơ bản về thể văn tế. Tìm bố cục của bài văn tế này.

Những nét cơ bản về thể văn tế:

  • Thường gắn với phong tục tang lễ, bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất.
  • Có hai nội dung cơ bản: kể lại cuộc đời, công đức phẩm hạnh của người đã mất và bày tỏ nỗi đau thương của người sống tỏng giờ phút vĩnh biệt.
  • Âm hưởng: bi thương nhưng sắc thái biểu cảm ở mỗi bài có thể khác nhau, có bài chỉ đơn thuần là tiếng khóc, có bài lại mang tính sử thi bi tráng.
  • Được viết theo nhiều thể: văn xuôi, thơ lục bát, song thất lục bát, phú,…
  • Giọng điệu: lâm li, thống thiết, sử dụng nhiều thán từ và từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh.
  • Bố cục thường có 4 đoạn:

+ Đoạn mở đầu (lung khởi): luận về lẽ sống chết

+ Đoạn 2 (thích thực): kể công đức, phẩm hạnh, cuộc đời người đã khuất.

+ Đoạn 3 (ai vãn): niềm thương tiếc đối với người đã chết

+ Đoạn 4 (kết): lòng tiếc thương và lời cầu nguyện của người đứng tế.

Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng được chia thành 4 đoạn với nội dung như trên, cụ thể các đoạn:

  • Đoạn 1: từ đầu cho đến “tiếng vang như mõ”
  • Đoạn 2: tiếp theo cho đến “tàu đồng súng nổ”
  • Đoạn 3: tiếp theo cho đến “cơn bóng xế dật dề trước ngõ”
  • Đoạn 4: còn lại

Câu 2. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện trong bài văn tế như thế nào? (Chú ý phân tích qua cả quá trình: hình ảnh họ trong cuộc sống bình thường, những chuyển biến khi quân giặc xâm phạm tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo, vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây).

Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện trong bài văn tế cụ thể qua các quá trình sau:

  • Hình ảnh trong cuộc sống bình thường: cần mẫn chăm chỉ làm ăn nhăng quanh năm vẫn nghèo khó, chỉ quen việc làm ruộng đồng, các việc tập khiên, súng chưa từng được xem qua.
  • Khi có quân xâm lược: tinh thần bảo vệ dân tộc lên cao, luôn vững vàng ý chí và sẵn sàng chiến đấu, quyết không để cho quân xâm lược cướp nước, không sợ hãi, không run sợ mà ra sức tiêu diệt giặc. Tự nguyện gia nhập nghĩa quân dù vốn chẳng phải dòng dõi cha ông theo quân đội.
  • Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây: lưng chỉ che bằng một manh áo vải, không cần dao, đạn, trên tay chỉ cầm ngọn tầm vông, dao tu và nón gõ, dùng súng hỏa mai và búi cơm con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay… tất cả những dụng cụ thân thuộc, đơn sơ lại trở thành vũ khí lợi hại để chiến đấu.

Câu 3. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Theo anh (chị) đó là những cảm xúc gì? Vì sao tiếng khóc đau thương này lại không hề bi lụy?

Tiếng khóc của tác giả xuất phát bắt nguồn từ nhiều nguồn cảm xúc, trước hết, nguồn cảm xúc dạt dào nhất chính là sự thương xót và tiếc nuối cho những nghĩa sĩ đã hy sinh vì cuộc chiến đấu, bên cạnh đó còn khóc vì cảnh chia lìa tang thương đau buồn, gia đình li tán, khóc vì hoàn cảnh đất nước bị quân xâm lược đàn áp, nhân dân những kẻ ngu muội đi theo quân xâm lược phản lại nước nhà.

Tiếng khóc đau thương nhưng lại không hề bi lụy bởi đó là niềm tự hào về những người con Nam Bộ, những con người nghĩa sĩ đã hy sinh vì độc lập dân tộc, sự hy sinh đó là sự hy sinh cao cả, đáng trân trọng, những con người ấy là tấm gương sáng để đời đời con cháu noi theo. Đại diện chi tinh thần và ý chí kiên cương, lòng yêu nước thủy chung son sắt.

Câu 4. Sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu là do những yếu tố nào? Hãy phân tích một số câu tiêu biểu.

Sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu do yếu tố cảm thán tạo nên. Tiêu biểu là những câu cảm thán mở đầu các đoạn của bài văn tế:

  • “Hỡi ôi!”,  “Nhớ linh xưa”, “Khá thương thay”, “Ôi”, “Ôi thôi thôi”. “Hỡi ôi thương thay”.
  • “Hỡi ôi” tạo nên cảm giác xót thương, tiếc nuối và thốt lên sự thật rõ ràng về quy luật sống – chết của nhân sinh. Trong khi đó “Nhớ linh xưa” lại tạo cảm xúc hồi tưởng lại những công lao, nghĩa khí của những người nghĩa sĩ. “Khác thương thay” thay cho lòng xót thương của những con người còn sống dành cho những người nghĩa sĩ đã hy sinh.

Luyện tập

Nói về quan niệm sống của ông cha ta thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Cái sống được ông cha ta quan niệm là không thể tách rời hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh thì đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục”. Anh (chị) hãy viết một đoạn văn phân tích những câu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để thể hiện đầy đủ, sâu sắc triết lý nhân sinh đó.

Triết lý nhân sinh đó được thể hiện một cách khá đầy đủ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. “đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục”, trước hết “đánh Tây là vinh” được thể hiện qua câu “Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ”, suốt cả mười năm làm ruộng vất vả nhưng chưa chắc đã được ai biết đến, đánh Tây một trận, tuy hy sinh nhưng tiếng thơm còn lưu truyền mãi nhiều đời. “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ” cái nhục khi theo Tây đó chính là sự chịu khổ của lũ man di, tàn độc và bóc lột, chúng chỉ dụ dỗ nhân dân ta để rồi sau đó lại trở thành nô lệ cho chúng. Câu văn “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ” đó chính là cái vinh được hưởng sau này, dù có hy sinh nhưng tiếng thơm đồn sáu tỉnh, muôn đời, nhân dân lập miếu để thờ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *